Lời mẹ ru như suối mát trong
Để con được âu yếm mỗi ngày
Cha là vầng ánh sáng thái dương
Luôn soi đường cho con đi mãi
Con đã được nuôi nấng với bao tình thương
Cha mẹ đã dành cho con hết
Suốt cuộc đời sương gió nắng mưa ngày đêm
Lo cho con cuộc sống ấm êm
Rồi thời gian trôi qua rất nhanh
Qua đi tuổi thơ ấu ngày nào
Và giờ đây con đã lớn khôn
Biết đi tìm một cuộc sống mới
Con sẽ còn ghi nhớ những lời của cha
Năm xưa đã dạy cho con đó
Con không thể nào quên những đêm mưa gió
Suốt canh thâu mẹ luôn vỗ về

Suốt cuộc đời này con không quên
Những điều cha đã dạy cho con
Sẽ là hành trang con mang theo đi suốt cuộc đời
Những lời dạy của mẹ năm xưa
Vẫn dịu dàng đâu đây bên con
Cho dù con bôn ba nơi xa đất khách quê người

Lời mẹ ru như suối mát trong
Con vẫn được âu yếm mỗi ngày
Cha là vầng ánh sáng thái dương
Luôn soi đường cho con bước đi

Rồi thời gian trôi qua rất nhanh
Qua đi tuổi thơ ấu ngày nào
Và giờ đây con đã lớn khôn
Biết đi tìm một cuộc sống mới
Con sẽ còn ghi nhớ những lời của cha
Năm xưa đã dạy cho con đó
Con không thể quên những đêm mưa gió
Suốt canh thâu mẹ luôn vỗ về

Suốt cuộc đời này con không quên
Những điều cha đã dạy cho con
Sẽ là hành trang con mang theo đi suốt cuộc đời
Những lời dạy của mẹ năm xưa
Vẫn dịu dàng đâu đây bên con
Cho dù con bôn ba nơi xa đất khách quê người

Lời mẹ ru như suối mát trong
Con vẫn được âu yếm mỗi ngày
Cha là vầng ánh sáng thái dương
Vẫn soi đường cho con bước đi

(Lời mẹ ru như suối mát trong
Để con được âu yếm mỗi ngày
Cha là vầng ánh sáng thái dương
Luôn soi đường cho con bước đi./.

Có lẽ sẽ có một ngày em đọc được những dòng chữ này…
Chúng ta yêu nhau từ lớp 11 nhỉ? Em còn nhớ chứ? Hồi đó anh là một thằng học dốt, lại hay gây sự đánh nhau, là học sinh cá biệt ở trường… Em vẫn chấp nhận anh, em vẫn giúp anh học tốt hơn, em vẫn đón nhận anh, em đã cho anh biết đươc tình yêu là gì… Anh thực sự đã thay đổi rất nhiều vì em… Nhưng em ra đi mà ko nói một lời, chia tay mà ko có lý do. Đến bây giờ anh vẫn ko hiểu tại sao nữa.

Từ ngày em đi anh cũng cố gắng sống, nhưng thực ra ko có sức sống nào trong anh. Trái tim anh đã mất đi sức sống từ ngày em đi. Đúng! Anh là một thằng điên, một thằng cố chấp nhưng anh vẫn chỉ yêu một mình em, anh ko thể đón nhận được người con gái nào khác… Cũng có những lúc ngồi một mình anh rất buồn, lại trách em rồi trách bản thân.

Hai năm rồi, hai năm sống như đã chết, hai năm chìm trong màn đen, hai năm sống trong nỗi nhớ em, anh nhớ khuôn mặt em, nhớ giọng nói tiếng cười của em…Và sau 2 năm em đã nhắn tin cho anh, em lại làm cho anh có một chút hi vọng… Anh thật sự vẫn rất yêu em, nếu được yêu một lần nữa anh vẫn mong được yêu em! Anh ko biết có nên nói với em điều đó hay không?

Bạn đừng chọn lựa hay xây dựng tình yêu trên sắc đẹp, tiền tài, vật chất, vì nó sẽ như mây khói, hoa cỏ, nay còn mai mất, sắc tàn, tài hết, thì tình sẽ nhạt phai.

Vua chúa ngày xưa ra chiếu thị: nếu bà vợ nào đảm đang chuyên chính, có nết na tốt, thì triều đình ban thưởng gấm vóc lụa là, sắc phong tiết hạnh. Nhưng nếu đôi vợ chồng nào sống buông lung, thay trắng đổi đen thì Ca dao có câu:

Phụ chàng là là gái bất trinh, trai ở bạc tình là đứa bất phu.

Còn ngày nay trai gái tự do luyến ái, đi lại vụng trộm, khi không vừa lòng nhau là tìm đến Văn phòng luật sư. Ôi thật là đau khổ cho thế hệ tiền bạc, vật chất trụy lạc đầy đau thương này.!

Xưa kia ngọc ở tay ta, bởi ta chểnh mảng ngọc ra tay người.

Đêm buồn

Chỉ mình anh trong căn phòng

Lòng hiu quạnh

Thương nhớ em vô cùng

Anh đang nghĩ gì?

Trong suy nghĩ chắc chắn ấy là nhớ em thật nhiều…

Đã hơn 2 ngày không liên lạc với em anh cũng buồn nhiều lắm nhưng vẫn cố gắng kiên trì, chờ đợi ngày sắp tới gặp lại em

anh sẽ mỉm cười và quên hết đi những nỗi buồn và anh sẽ nói cho em nghe.

Đúng là đêm nay anh không thể ngủ được bởi anh đã nhớ những kỷ niệm của anh và em.

Ngày mai anh thi nghĩ về em anh cũng cố gắng hơn rất nhiều.Em cũng đang ôn thi rồi, hãy gắng lên nhé!

Anh nguyện cầu em sẽ mãi ở bên anh và anh sẽ yêu thương em hết mình! Chúc em ngủ ngon!

Thiếu nữ Huế
Vùng đất Huế là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều, đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử…
Kinh đô Huế làm nảy sinh nơi người dân một phong cách mà người ta nương tình gọi là “đài các”, tức là một vẻ cao sang mơ hồ nào đó, nhưng cái đài các này không khu biệt trong vòng hoàng thành mà còn lan tỏa trong dân gian. Từ cái đài các ấy còn rẽ riêng một nét tinh mà người tại chỗ gọi là tính “đài đệ”, có nghĩa là một sự giữ kẽ, giữ ý, và luôn cả một tính cách mà người ta gọi là “đế đô”. Khi người mẹ mắng con gái “đừng có đế đô!” thì có nghĩa là đừng có đòi hỏi, đừng với cao, đừng học làm sang.
Cái tính “đài đệ” được thể hiện rộng rãi, tràn lan, chẳng hạn ở chiếc áo dài mà có lẽ Huế là nơi được mang mặc nhiều hơn cả. Cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong. Thậm chí nhiều bà danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài.
Thiếu nữ Huế thường là kín đáo, không bộc lộ tâm tình cho người khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ. Trong hai câu thơ của Đông Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo, chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế. Một tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “… Các cô gái Huế kiêu sa và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của mình” (Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).
Trong khi sông Hồng và sông Cửu Long đi vào địa lý và hiên ngang đi vào kinh tế, thì sông Hương êm đềm đi vào thơ nhạc. Văn hóa nghệ thuật là một cõi mênh mông, rất ít tính chất thực tế, nhưng làm đẹp cho đời, giống như bông hoa trong đời sống.
Sông Hương hiển nhiên như đóa hoa tô điểm cho thành phố. Không có con sông nào làm hao tốn giấy mực cho bằng sông Hương. Không có con sông nào làm tuôn trào suối nhạc cho bằng sông Hương. Và cũng chính nó là nguyên ủy cho sự ra đời của bao nhiêu hiệp hội ái hữu, đồng hương với nó ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Vẻ đẹp của sông Hương
Như ta vừa nói, sông Hương đã khơi nguồn cho nhiều suối thơ. Nó cắm được nhiều điểm lưu khách, nhiều bến sông hữu tình dễ neo thuyền. Một số lớn các chúa, các vua, các vương, các hoàng thân công nữ đã chấm bút vào nghiên thơ. Các thi xã, hội thơ, thi đàn nối tiếp nhau ra đời.
Về lĩnh vực thơ của các tôn thất, hãy khoan nói đến chất lượng có cao như lời khen tặng của vua Tự Đức chăng, hay là ngược lại, có thấp như lời phê nghiêm khắc của Cao Bá Quát, ta chỉ cần ghi nhận rằng thi ca trở thành một sinh hoạt tinh thần rộng khắp, cho già trẻ trai gái, cho mọi nghề, mọi nhà, như thể là một sinh hoạt bình thường hằng ngày, giống như người ta hít thở không khí vậy.
Tuy nhiên, cũng chính con sông Hương mà người ta dễ tưởng là suốt đời lặng lẽ ngoan hiền ấy hằng năm vùng dậy quẫy nước tràn bờ. Bởi Huế không những nổi tiếng nắng nóng mùa hè, nó còn nổi tiếng về lụt lội nhiều lần trong năm và những lúc ấy nước sông đục ngầu, dữ dội, có khi chảy ngược dòng. Nước sông cuồn cuộn ấy, dù là trái ngược hẳn với thường ngày, vẫn đúng là hình ảnh của sông Hương, là lòng dạ sâu thẳm của nó đã lộ diện, là bộ mặt bổ túc vào bộ bộ mặt thường bắt gặp của nó.
Tóm lại, nắng cháy với mưa dầm bão lụt, ấy là Huế. Nước chảy lờ đờ và nước phăng phăng cuồn cuộn, ấy là sông Hương. Người thiếu nữ nghiêng nón dạ thưa nhưng yêu thương say đắm, dữ dội, ấy là con gái Huế.

Người Huế thường phản ứng chậm. Vẻ bề ngoài và hành động không hô ứng tiếp liền nhau. Hay nói cách khác, giác quan tiếp nhận cảm giác và nội tâm cứ hành hai nhịp khác nhau và giữa hai nhịp đó là một khoảng dành cho nụ cười, tiếng dạ thưa, sự e dè, cân nhắc. Đó là một loại “phản ứng hẹn giờ”, nhưng một khi phản ứng phát ra, nó có tính cách dứt khoát, không vãn hồi. Đó là nét tinh Huế mà người ta gọi là “thâm trầm”, “thâm thúy”.
Nếu không có lịch sử sẵn chực những bằng chứng cụ thể, hùng hồn thì ít ai ngờ rằng cái đất Huế trầm mặc này lại có thể là sân khấu phát động, châm ngòi những biến cố lớn của đất nước từ trong lòng những học sinh sinh viên chăm học hoặc những chị tiểu thương hiền lành tần tảo. Hóa ra đất Huế là đất nuôi trồng những thái cực, và con người xứ Huế để ra cả một đời mình để gỡ rối mớ bòng bong tâm lý và mâu thuẫn nội tâm này.
Con người Huế làm nên Huế là những con người đi ngược lại những thuộc tính ban đầu của vùng địa lý. Nó vật lộn thường trực với những mố giằng co tâm lý.
Trịnh Công Sơn trong ca khúc Diễm xưa có nói tới một loài chim di. Chim di là một loài chim di trú, không định cư tại một nơi chốn, tùy theo mùa xoải cánh đi tìm nơi khí hậu ôn hòa.
Người dân Ô Lý chất chứa trong tâm khảm mình một món nợ tinh thần đời đời với công chúa Huyền Trân ngày xưa đã vùi quên tuổi thanh xuân của mình mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Đó là một sự lưu đày biệt xứ nhưng tự nguyện và vị tha.
Nó đã ghi dấu sâu đậm vào ca nhạc của xứ sở này. Cái hơi “ai” của ca Huế không hẳn là sầu bi nhưng đầy hoài bão, vừa tự sự mà vừa khơi dậy mạch tình bắt nguồn từ xa xưa, hòa tan vào huyết mạch, hầu như khó lòng truy cứu, khó lòng giải mình. Nó như thể một loại tình cảm nguồn cội, lắng sâu, dằn lòng xuống kết tạo thành một trọng lượng của tâm hồn. Sợi dây tình cảm này trói buộc bước chân con người, níu kéo con người không cho nó rời xa cái phố đẻ của nó.
Người ta bảo đất Thừa Thiên này vừa là vườn ươm vừa là bệ phóng nhân tài, cũng có nghĩa nơi đây vừa là địa điểm đào tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên, lập nghiệp để rồi sau đó đàn chim rời tổ bay xa.
Người con của Huế cảm thấy khó lòng rời xa bàn thờ tổ tiên hoặc cõi nhà vườn của mình. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa bỏ nhà ra đi vẫn chưa viên thành vận số của mình. Và một khi xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm thức kẻ ly hương một loại tình cảm mới: tình cảm hoài hương. Loại tình cảm này có tính cách siêu hình, thâm sâu như tình con với mẹ, nó âm ỉ như mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó là một thứ tình cảm nhi nữ thường tình, ủy mị. Nó vừa giúp con người không quên nguyên quán của mình, vừa thôi thúc con người sống chẳng phải cho bản thân, mà cho một vận hội chung, có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận thức ấy, con người lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng về quê hương, xem đó như những ốc đảo tình cảm giữa đời sống mênh mông.

Created by MaiCongTruong1989™
Được đăng bởi Mai Công Trường 01/01/1989 Quỳnh Phụ Thái Bình vào lúc 12:44 AM 0 nhận xét Các liên kết với bài này
Nhãn: About Phale187 nickname Doingoi_sao_187

Không cần thiết phải mất thì giờ để nói thêm về vẻ đẹp của dòng sông này. Người ta đã nói khá nhiều, những bậc tài danh, và những người mà bước chân lãng du từng in dấu qua nhiều dòng sông đẹp nổi tiếng thế giới. Không chỉ bằng lời, mà còn bằng văn chương, thi ca, âm nhạc, hội hoa, phim, ảnh v.v…
Nhưng có lẽ, tốt hơn hết là hãy đến tận nơi, đắm mình vào trong nó, hòa vào đời sống chính nó, khám phá, chiêm nghiệm nó, và… tự cảm nhận.
Vẻ đẹp ấy do Trời – Đất sinh ra, như bông lan rừng, như nàng mỹ nữ, như sắc thắm của đóa hoa hồng nở trong sương sớm, khum khum giữ lại trong cánh mỏng của mình những giọt sương nhỏ, long lanh.
Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào Ái Tử trấn nhậm phương Nam cho đến khi các chúa Nguyễn tìm được sông Hương làm “chỗ dừng chân” nơi làng Kim Long, dòng sông ấy đã mất 78 năm chờ đợi (1556 – 1636). Còn chỉ từ Kim Long về tới làng Phú Xuân, cách nhau chừng năm cây số, mất 51 năm (1636 – 1687). Trịnh – Nguyễn phân tranh, đất nước đắm chìm trong triền miên chiến trận. Thêm 118 năm nữa (1687 – 1805) để có được hòa bình, xây dựng kinh đô. Quãng đường Ái Tử – Phú Xuân mất 247 năm. “Đã biết bao nhiêu nước chảy dưới chân cầu?!”.
Kinh đô Phú Xuân bên bờ sông Hương không lớn, mặc dù triều vua Minh Mạng tiếp nối triều vua Gia long là giai đoạn phồn vinh trong toàn bộ quá trình phát triển của đất nước từ Cổ Loa đến Phú Xuân. Lãnh thổ chưa bao giờ rộng lớn hơn, sản vật chưa bao giờ giàu có hơn, dân cư chưa bao giờ đông đúc hơn. Chiều Bắc – Nam, từ ải Bắc đến mũi Cà Mau, ruộng đồng cò bay thẳng cánh. Chiều Tây – Đông, từ lũy Trấn Ninh đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, rừng vàng, biển bạc trong khi số dân chỉ hơn năm triệu người. Vậy mà kinh thành nhỏ bé, khiêm nhường, nép cạnh dòng sông, nhún mình xuống, hòa vào trong, hợp thành một. “…Những dòng kênh như thêu ren, chạm khắc…”. Ứng xử ấy là một ứng xử văn hóa, ứng xử của người quân tử trước tạo vật.
Thiên nhiên khắc nghiệt, đất cát khô cằn, chỉ với sản vật từ chính dòng sông, và những mảnh vườn được dòng sông tưới tắm, bằng trí tuệ và tài khéo, cư dân châu thổ sông Hương đã sáng tạo cho mình, cho cộng đồng, và… cho hậu thế những sáng tạo đặc sắc bằng thành tựu của một nền văn hóa ẩm thực dân dã mà cao sang, hàm chứa một kho tàng tri thức Việt, uyên thâm về tự nhiên và xã hội. Cá bống thệ kho rim, bát canh cá dìa ngon ngọt, tô cơm hến nồng nàn, trái vả xanh kho chung với tôm thịt, thậm chí cát, sạn móc từ đáy sông xây dựng kinh thành… là những gì sông Hương rút ruột dâng đời.
Dòng sông ấy thực sự là chiếc nôi ấm, mềm sản sinh những câu hò, điệu lý vang vọng trong không gian và thời gian, để nuôi dưỡng một tình yêu lịch sử và thiên nhiên sâu thẳm, ru vỗ, an ủi con người.
Tưởng nhớ nàng công chúa nhà Trần đã vì nghĩa lớn dấn thân, câu hò trên dòng sông vút cao, lan xa, truyền đi trên sóng nước: “Nước non ngàn dặm ra đi… Mượn màu son phấn, đền nợ Ô – Ly…”. Ngậm ngùi trước thất bại của vị vua yêu nước và các nghĩa sĩ, giọng mái nhì trên dòng sông ai oán: “Chiều chiều… trước bến Văn Lâu/Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, ai thương, ai cảm, ai đợi, ai trông, thuyền ai thấp thoáng bên sông…?”. Tất cả, tất cả thường hằng, rì rào như tiếng sóng nhẹ vỗ về bờ cỏ, như tiếng chuông chiều man mác, ngân nga truyền lan trên mặt sông, như tiếng gió reo trong ngàn thông đôi bờ, trải thời gian, đã kết tụ, thăng hoa thành Nhã nhạc cung đình, trở thành giá trị văn hóa phi vật thể, đóng góp vào đời sống nhân loại.
Những làng nghề đẹp như tranh trải dọc hai bờ như chuỗi ngọc long lanh cung ứng cho đất kinh kỳ những sản phẩm của tài hoa.
Ru em, em “théc” cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai…
…Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương…
Câu hát ru em cứ thế dài ra như một danh mục phong phú hướng dẫn cư dân tìm đúng địa chỉ cần tìm trong đời sống thường nhật.
Ngoài vẻ đẹp tự nhiên, không son phấn, sông Hương còn đẹp hơn lên nhiều lần trong nhịp sống cần lao. Chính tâm thế văn hóa và giá trị cần lao đầy ý thức đã làm cho sông Hương trở thành một vẻ đẹp tự thân, kín đáo, đằm thắm mà thẳm sâu, không dễ gì nhận biết.
Vẻ đẹp ấy được bắt nguồn từ gốc rễ sâu xa nơi Như Nguyệt hà: “Như hà nghịch Lỗ lai xâm phạm…”, trong tiếng trống trận Vạn Kiếp, Bạch Đằng, mà cũng tiếp nối mạch nguồn “Cư trần – Lạc Đạo” từ ngàn thông trên núi thiêng Yên Tử. Đời sống mà dòng sông ấy kế thừa, kết tinh và phát triển nằm trong quỹ đạo mạch lạc của văn hóa Việt Nam, để thăng hoa thành một sắc thái văn hóa mới, sắc thái Phú Xuân, đóng góp vào văn hóa Việt. Ẩn sâu trong sắc thái ấy, trong con sóng tưởng như hiền hòa của dòng sông ấy, thi hào họ Cao đã nhìn ra ánh kiếm lạnh sắc chĩa thẳng lên trời xanh: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”.
Sông Hương như một kiều nữ, tài sắc vẹn toàn. Nhan sắc là của trời cho, còn tài năng, hay một cách nói khác, gia tài văn hóa là kết quả của cả một quá trình cần lao, nhiều đời tạo dựng.
Sông Hương là một đóa hồng trong thiên nhiên lộng lẫy, tỏa hương quyến rũ. Những giá trị nhân văn, những kiến trúc – đô thị đôi bờ là những giọt sương long lanh. Mà theo lẽ thường, bông hồng càng mong manh càng được bảo vệ bằng những chiếc gai nhọn sắc.

Ý nghĩa biểu tượng Festival Hue 2010

Ý nghĩa biểu tượng

Biểu tượng chính thức của Festival Huế
Logo Festival Huế được thiết kế là sự tiếp nối của logo Festival Huế qua các lần tổ chức và đã trở thành một biểu tượng chung duy nhất cho các kỳ Festival Huế sau này.
Mẫu logo gồm 2 phần:
Phần chữ Festival Huế và năm tổ chức là tác phẩm được tuyển chọn của họa sĩ Pháp De L’Estraint vào năm 1999, khi chuẩn bị tổ chức Festival Huế 2000.
Ý tưởng cơ bản của biểu tượng là sử dụng màu cờ nền đỏ sao vàng của quốc kỳ Việt Nam làm nền, đi liền với màu cờ là hình Ngọ Môn ở Ðại Nội Huế được cách điệu và dòng chữ Festival Huế 2000 được bố trí theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Pháp và tiếng Việt.
Dưới nền logo chính của De L’Estraint, ban tổ chức Festival Huế đưa thêm hình ảnh của linh vật Long Mã.
Long Mã – ngựa hóa rồng – là linh vật đặc trưng thường được trang trí trên một số kiến trúc Huế. Biểu tượng Long Mã được cách điệu từ hình tượng Long Mã tại bình phong trường Quốc Học, di tích lưu niệm thời Bác Hồ theo học tại trường Quốc Học Huế.